Từ lâu tôi đã khá thích thú với những trải nghiệm dưỡng sinh. Nhưng khi còn trẻ, tôi chỉ thực hành ở mức trải nghiệm cho biết. Vì thế tôi biết khá nhiều môn. Mặc dù mỗi thứ một ít, tôi cũng tự hài lòng nghĩ rằng khi sức khỏe có vấn đề, tôi sẽ biết tìm giải pháp tự hỗ trợ mình ở đâu.
Nhưng đến khi thực sự gặp biến cố về sức khỏe thì tôi mới giật mình: Tôi chẳng có gì để tự giúp mình cả.
Lúc này tôi hiểu ra, mỗi phép dưỡng sinh đều có những tầng sâu của nó. Nếu chỉ trải nghiệm cho biết thì đến lúc thực sự cần, mình lại thành chẳng biết gì cả.
Tuy vậy, tôi vẫn còn một chút an ủi. Tôi nghĩ, các vị tiền bối đã để lại cả một kho tàng tri thức dưỡng sinh phong phú như thế thì hẳn cũng ẩn chứa một lẽ công bằng: Bất cứ ai cũng xứng đáng có cho mình một phương pháp phù hợp với cơ địa và hoàn cảnh của bản thân.
Với suy nghĩ đó, sự hào hứng trở lại.
Và tôi lên kế hoạch cho mình. Cùng với việc điều chỉnh cách nấu ăn và ăn uống theo chế độ thực dưỡng, tôi tập thêm những bài dưỡng sinh, tập thở bụng, tập ăn chậm, nhai nhuyễn theo tinh thần “Luyện cốc thành tinh” của tiền nhân. Một kế hoạch tưởng như hoàn hảo, kết hợp giữa những trải nghiệm quá khứ cùng những kiến thức mới.
Nhưng lại chính từ kế hoạch này, những ngày tháng thê thảm bắt đầu.
Ngoài việc thành một đầu bếp chăm chỉ thì chẳng có môn nào mà tôi không rơi vào tình trạng tập sâu một chút là mất kiên nhẫn.
Việc thường xuyên bỏ cuộc giữa chừng khiến tôi ngày càng chán nản. Càng cố, tôi lại càng mất niềm tin vào khả năng kiên trì của mình.
Nhưng rồi một ngày, có một duyên lành đến.
Một tối, tôi gắng thực hiện một cữ thở bụng trước khi ngủ với tâm trạng khá buồn. Tôi đã cố nhiều, đã tập theo nhiều phương pháp khác nhau, nhưng kết quả vẫn chỉ thở được một chập là khó chịu, mất kiên nhẫn.
Tôi buột miệng thở dài:
“Có cách nào khác để thở mà không bị mất kiên nhẫn không?”
Và tối đấy, hơi thở có vẻ cũng xót thương tôi. Ngay trong tiếng thở dài đó, nó đến bên tôi, nhắc tôi nhớ lại một lời chỉ dẫn của thiền sư Thích Nhất Hạnh mà trước đó, vì hấp tấp, tôi đã bỏ qua.
Điều tôi nhớ và hiểu khi ấy rất đơn giản: Đừng cố kiểm soát hơi thở, chỉ cần biết mình đang thở. Thở vào, biết mình đang thở vào. Thở ra, biết mình đang thở ra.
Chỉ vậy thôi.
Mà theo chỉ dẫn ấy, tối đó tôi đã thở, rồi càng thở càng say mê.
Và niềm vui trở lại.
Ngày hôm sau, với niềm phấn khích, tôi đem hơi thở vào bữa ăn của mình.
Tôi nhai theo hơi thở của mình.
Tôi tự đặt cho mình một cách rất đơn giản: không theo hết được cả bữa ăn thì ít nhất cũng thử ăn ba miếng đầu, mỗi miếng cùng 30 hơi thở. Duy trì như vậy qua vài ngày thì tôi nhận được phần thưởng: Ngay từ khoảng giữa miếng ăn đầu, tôi đã cảm nhận được khoang bụng của mình dần ấm lên, cảm giác hệ tiêu hóa như được đánh thức.
Tôi rất vui. Nhưng cũng lại lo lắng ngay: Làm thế nào để duy trì?
Mỗi người một cơ địa. Có những người rất kiên cường, nhưng tôi không được như thế. Sau những kinh nghiệm bỏ cuộc của mình, tôi biết con người tôi rất dễ dao động trước áp lực, trước những tình huống kiểu như: “Phải làm!”, “Phải nhớ!”, “Phải nhanh!”, “Phải kiên trì!”…
Hay là cơ thể không thích những mệnh lệnh. Nó thích được lắng nghe và mời gọi hơn.
Nghĩ thế, tôi thử.
Những ngày tiếp theo, tôi không lên kế hoạch nào cả mà chỉ tự gửi cho mình những lời mời.
Khi cặp mắt bắt đầu muốn díp lại sau một ngày dài, tôi mời mình:
– Mỏi rồi, ta thở thôi!
Buổi sáng nhìn ấm trà mới pha, tôi mời mình:
– Thơm chưa? Nhai nước thôi!
Đến bữa ăn, nhìn mâm cơm, tôi cũng mời mình:
– Ngon rồi, uống thức ăn thôi!
Tôi thấy có vẻ yên tâm hơn, vì mời thôi, nó khá nhẹ nhàng.
Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy.
Sau vài ngày tự gửi cho mình những lời mời, tôi bắt đầu cảm thấy có điều bất ổn.
Nhìn lại chuỗi câu chuyện của mình, tôi dần hiểu. Vấn đề của tôi vốn không phải là có hay mất kiên nhẫn mà nằm ở bốn chữ cổ nhân dạy: “Dục tốc bất đạt”.
Vào thời điểm gặp “duyên lành”, thực ra tôi mới chỉ chạm được vào một bước khởi động rất nhỏ: thở mà không bị mất kiên nhẫn. Thế mà ngay lập tức tôi đã muốn dùng nó để chuyển hóa tất cả những vướng mắc dưỡng sinh khác. Dù gọi đó là những “lời mời” thì con người tham lam, ôm đồm và nóng vội trong tôi vẫn còn nguyên.
Sau một hồi tự trách, rồi tôi cũng tự tha thứ cho mình. Biết lỗi thì tìm cách sửa là được.
Từ hôm đó, tôi điều chỉnh lại. Tôi tự nhủ: Hãy làm từ việc nhỏ mà mình thực sự làm chủ được. Và khi làm nó, tôi sẽ chỉ nhìn vào bức tranh cuộc đời, không nhìn vào mong cầu, không nhìn vào thành tích.
Và bức tranh đầu tiên tôi vẽ: Một người đàn ông mỗi ngày đều tặng cho mình những cữ thở có ý thức.
Không quan tâm mỗi cữ thở dài hay ngắn, không quan tâm từng hơi thở chất lượng hay chưa. Chỉ cần biết mình đang thở và thân mình nhẹ hơn vì được quan tâm.
Và hằng ngày, tôi mời mình điều đó.
Duy trì chừng hai tuần, tôi thấy hơi thở có ý thức dần xuất hiện một cách tự nhiên hơn mỗi khi tôi bắt đầu một việc gì. Và thật mầu nhiệm, chỉ cần nó xuất hiện thì việc tôi làm, cho dù là nhàm tẻ nhất thế giới, cũng trở nên có ý nghĩa.
Sự xuất hiện tự nhiên ấy giúp tôi nhận ra: Lời mời sâu sắc nhất chính là lời mời không lời. Đó là hơi thở có ý thức.
Thế giới như nhẹ hơn. Tôi không còn phải đăm chiêu nghĩ xem hôm nay mình mời mình điều gì. Tôi chỉ thở và biết mình đang thở, lời mời tự nhiên tới.
Cảm giác chạm vào hành trình đi tới vui khỏe khiến tôi vui lắm.
Ngay khi viết những dòng này, niềm vui của tôi cũng đang được nhân lên. Chỉ cần nghĩ tới lúc mình sẽ vẽ và bước vào bức tranh người đàn ông đang ăn chậm hay người đàn ông đang trà đạo… là tôi đã thấy hào hứng lên.
Lòng tham thật là cũng có nét đáng yêu của nó.
Nhưng giờ thì tôi biết mình chẳng cần vội. Tôi muốn hưởng thụ thêm nữa niềm vui bên lời mời không lời của mình. Tôi muốn cảm nhận hơi thở của hành trình vui khỏe.
Và đương nhiên, vì đó là một hành trình vui khỏe nên sẽ thật thiếu trọn vẹn nếu đi một mình.
Hôm trước, sau tuần trà cùng chia sẻ dưỡng sinh với một người bạn, tôi hào hứng nói với anh ấy. Mặc dù là một câu nói vui, nhưng nó chứa niềm tin và hy vọng của tôi:
“Đến một lúc, chưa nói bữa ăn hay tuần trà, mỗi cữ thở của tôi là một bữa tiệc, và bữa tiệc nào cũng có người yêu là thân tâm mình.”